BioSpring
anh-huong-probiotic-bacillus-dang-bao-tu-chiu-nhiet-den-nang-suat-vi-khuan-va-hinh-thai-vi-the-bieu-mo-duong-ruot-ga-thit-long-mau

Ảnh hưởng của Probiotics Bacillus dạng bào tử chịu nhiệt đến năng suất, vi khuẩn và hình thái vi thể biểu mô đường ruột gà thịt lông màu

21-12-2016

Phạm Kim Đăng1*, Nguyên  Đình Trình2, Nguyn Hoàng Thnh1,

Nguyn Th Phương Giang1 và Nguyn Bá Tiếp

TÓM TT

          Nghiên cứu đánh giá tác dụng của chế phẩm probiotics NeoAvi GroMax chứa Bacillus dạng bào tử đến khả năng sản xuất gà thịt, giống Ri Ninh Hoà. Sau 13 tuần, các chỉ tiêu khối lượng cơ thể, tăng trọng trung bình/ngày; thu nhận thức ăn/ngày của gà được bổ sung chế phẩm NeoAvi GroMax (trộn với tỷ lệ 0,3%) và gà được bổ sung kháng sinh BMD (Bacitracin Methylene-Disalicylate) 10% (0,4g/kg thức ăn) cao hơn của nhóm đối chứng (được nuôi bằng khẩu phần cơ sở). Tỷ lệ chuyển hóa thức ăn, tiêu tốn thức ăn/kg tăng trọng của gà được bổ sung chế phẩm hoặc kháng sinh thấp hơn của gà nhóm đối chứng. Không có sự sai khác khối lượng và một số chỉ tiêu chất lượng thịt giữa các lô gà thí nghiệm. Chế phẩm NeoAvi GroMax làm giảm số lượng vi khuẩn E.coli và Salmonella sp. trong hồi tràng và trong phân; làm tăng số lượng Lactobacillus sp. trong hồi tràng. Kháng sinh làm giảm số lượng Lactobacillus sp. trong manh tràng gà thí nghiệm. Chiều cao và chiều dày lông nhung biểu mô tá tràng và không tràng tăng lên dưới tác dụng của chế phẩm. Nghiên cứu đã chứng minh được tác dụng của probiotics dạng bào tử chịu nhiệt đến năng suất gà thịt thông qua tác dụng cải thiện hệ vi sinh vật đường ruột và sức khỏe biểu mô ruột.

T khóa: Gà tht, năng sut, NeoAvi GroMax, Ri Ninh Hòa

 

ABSTRACT

Effect of heat resistance Bacillus spores as a probiotics feed supplement on the performance, intestinal microbiota composition and epithelial villum measurements of colored broilers

Pham Kim Dang, Nguyen Dinh Trinh, Nguyen Hoang Thinh,

Nguyen Thi Phuong Giang and Nguyen Ba Tiep

        The study aimed to assess effects of NeoAvi GroMax, a probiotics containing Bacillus spores, on performance of Ninh Hoa colored broilers breed. Final body weight, ADG, DFI after 13 weeks trial of chickens fed on basal diet supplemented with NeoAvi GroMax (0,3% supplement) and chickens fed on basal diet supplemented with BMD (Bacitracin Methylene-Disalicylate) 10% (0.4g/kg feed) were higher than that of control chickens (given basal diet only).  Both the probiotics and antibiotic supplement led to lower FCR and feed weight per kg BW gain. Carcass characteristics and meat organoleptic quality were non-significant different among groups. NeoAvi GroMax supplement resulted in lower jejunum and fecal E. coli and Salmonella sp. counts; higher caecal Lactobacillus count. In contract, BMD caused the decrease of cecal Lactobacillus count. Duodenum and Jejunum villi height and thickness were higher in the chickens fed on probiotics-supplemented diet. The results proved productive effects of heat resistance Bacillus spores in chicken with positive effects on intestinal microbiota and epithelial cells.

KeywordsNeoAvi GroMax, Performance, Broiler, Ri Ninh Hoa breed

1. ĐT VN Đ

        Trong chăn nuôi, đặc biệt là chăn nuôi công nghiệp, kháng sinh đóng vai trò quan trọng không chỉ trong phòng trị bệnh mà còn được sử dụng như chất kích thích sinh trưởng của vật nuôi. Từ những năm 50, kháng sinh đã được sử dụng nhằm kích thích sinh trưởng trong chăn nuôi lợn và gia cầm. Tuy nhiên, sử dụng không đúng nguyên tắc và lạm dụng  kháng sinh đã và đang làm giảm tác dụng phòng và trị bệnh của kháng sinh,  ảnh hưởng đến sức khỏe cộng đồng. Chính vì thế, từ tháng 1 năm 2006, Ủy ban Châu Âu đã cấm sử dụng kháng sinh nhằm mục đích kích thích sinh trưởng (chỉ thị 1831/2003/EEC). Trong thập kỷ qua, đã có nhiều nghiên cứu tập trung vào tìm kiếm các phương pháp thay thế sử dụng kháng sinh cũng như tìm kiếm các chất vừa có khả năng kích thích sinh trưởng, an toàn, thân thiện để giảm nguy cơ mắc bệnh đường ruột cho vật nuôi và cải thiện chất lượng sản phẩm cho người tiêu dùng như chế phẩm probiotics, prebiotic, symbiotic, enzymes, axit hữu cơ và các chất phụ gia khác đã và đang được phát triển (Fluton et al., 2002). Tác dụng tích cực của probiotics được chứng minh thông qua khả năng kích thích tính thèm ăn (Nahashon et al., 1994), cải thiện, thiết lập cân bằng hệ vi sinh vật đường ruột (Fuller, 1989), cải thiện chức năng tiêu hóa (Collins et al., 1999). Ngoài ra, probiotics kích thích hệ miễn dịch (Perdigon et al., 1999; Collins et al., 1999). Vì vậy, trong chăn nuôi, đặc biệt chăn nuôi công nghiệp, sử dụng probiotics để cải thiện sức khỏe đường ruột qua đó cải thiện sức khỏe và sức sản xuất của vật nuôi (Block et al.,2002). Tuy nhiên, vẫn còn có những tranh luận về tác dụng của probiotics. Nghiên cứu của Maxwell và cộng sự (1983);  Hong và cộng sự (2002) cho rằng bổ sung probiotics chứa Lactobacillus sp. có tác động tốt đến khả năng tiêu hóa. Một số nghiên cứu khác lại cho rằng bổ sung probiotics có chứa Lactobacillus hoặc Bacillus không ảnh hưởng đến khả năng tiêu hóa của lợn thí nghiệm (Hale et al., 1979, Kornegay et al., 1996). Những kết luận trái ngược này có thể do có sự khác nhau về đặc tính của vi sinh vật trong chế phẩm,  điều kiện bảo quản, và cách thức sử dụng chế phẩm probiotics.

        Ở Việt Nam, sử dụng kháng sinh trong thức ăn chăn nuôi đang ngày càng được quản lý chặt chẽ. Đến 15 tháng 7 năm 2016, số lượng các loại kháng sinh được cho phép có mặt trong thức ăn chỉ còn 15 loại (Bộ NN&PTNT, 2016) và sẽ cấm hoàn toàn vào năm 2018. Do đó, sử dụng probiotics ngày càng được các nhà khoa học, cơ quan quản lý và người chăn nuôi quan tâm. Hiện nay trên thị trường có nhiều sản phẩm probiotics nhưng đa số sử dụng bằng cách đưa trực tiếp vào thức ăn hoặc nước uống. NeoAvi GroMax là một trong những sản phẩm mới chứa bào tử vi khuẩn có khả năng chịu nhiệt của công ty BioSpring với ưu điểm có thể sử dụng trộn vào thức ăn trong các nhà máy sản xuất thức ăn công nghiệp. Nghiên cứu này được thực hiện nhằm đánh giá ảnh hưởng của chế phẩm NeoAvi GroMax đối với gà thịt, làm cơ sở khuyến cáo sử dụng cho các nhà sản xuất thức ăn và người chăn nuôi.

2.VT LIU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CU

2.1. Đa đim và thi gian thí nghim

Thí nghiệm được thực hiện tại Trại thực nghiệm, Khoa Chăn nuôi, Học viện Nông nghiệp Việt Nam từ tháng 9 đến tháng 12 năm 2015.

2.2. B trí thí nghim

        Thí nghiệm bao gồm 180 gà thịt lông màu, giống Ri Ninh Hòa, 2 tuần tuổi được sử dụng trong 3 đợt thí nghiệm. Mỗi đợt, 60 gà được phân ngẫu nhiên thành 3 nhóm (10 gà trống  và 10 gà mái/nhóm). Gà nhóm đối chứng được nuôi bằng khẩu phần cơ sở (không được bổ sung kháng sinh và probiotics). Gà nhóm 2 được cho ăn khẩu phần cơ sở có bổ sung BMD (Bacitracin Methylene-Disalicylate) 10% với với lượng 0,4 g/kg thức ăn. Gà nhóm 3 được cho ăn khẩu phần cơ sở có bổ sung NeoAvi GroMax 0,3%. Tất cả gà thuộc 3 ba nhóm được phòng cầu trùng bằng Diclazuril 0,5% với liều 0,25g/kg ở giai đoạn trước 5 tuần tuổi. Khẩu phần ăn được cân đối trên cơ sở 2 khẩu phần ăn dành cho hai giai đoạn của gà thịt lông màu từ 1 đến 28 ngày tuổi (DM 87,93%, Protein 17,96%, ME 3139 Kcal/kg, Ash 3,30%) và từ 29 ngày đến xuất bán (DM 88,22%, Protein 19,7%, ME 3069 Kcal/kg, Ash 3,49%). Công thức thức ăn sử dụng cho nhóm đối chứng (khẩu phần cơ sở) là công thức thức ăn được cần đối lại từ công thức thức ăn có chứa BMD (mã thức ăn dùng cho gà thịt lông màu đang được thương mại trên thực tế). Còn thức ăn dùng cho nhóm 3 được xây dựng trên cơ sở khẩu phần cơ sở bổ sung NeoAvi GroMax 0,3%.

2.3. Phương pháp đánh giá các ch tiêu

        Các chỉ tiêu năng suất được đánh giá theo Bùi Hữu Đoàn và ctv (2011). Khối lượng gà được xác định hàng tuần bằng cân đồng hồ loại 5kg. Hệ số chuyển hóa thức ăn được tính toán dựa trên lượng thức ăn thu nhận hàng ngày.

        Khi gà được 15 tuần tuổi, 4 gà/nhóm (2 trống, 2 mái) được mổ khảo sát để đánh giá khả năng cho thịt và một số chỉ tiêu chất lượng cảm quan. pH cơ lườn được đo ở thời điểm 15 phút và 24 giờ sau giết mổ bằng máy đo pH mettre Testo 230 (Germany).

        Sau giết mổ, mẫu cơ đùi và cơ lườn được lấy để đánh giá độ mềm bằng thiết bị Warner – Bratzler 2000D. Màu sắc thịt được xác định bằng máy Minolta CR-410 và được thể hiện thông qua tham số L*- (lightness), a*-(redness) and b*- (yellowness).

        Các mẫu chất chứa trong hồi tràng, manh tràng và phân được lấy để xác định mật độ (Log10 CFU/g) của một số vi khuẩn E.coli, Salmonella sp., Clostridium perfringens và Lactobacillus spCác tiêu chuẩn tham chiếu tương ứng với các vi khuẩn trên gồm ISO 13349/2001, ISO 6579/2003, ISO 7937/2004 và ISO/Dis 11290/1994.

        Tiêu bản vi thể mẫu hồi tràng và manh tràng (trong formalin 10%) được làm theo quy trình chuẩn. Hình thái biểu mô ruột trên tiêu bản nhuộm HE được quan sát với kính hiển vi Kniss MBL-2000T (Olympus, Japan). Chiều cao và chiều dày lông nhung biểu mô ruột được đo bằng phần mềm Infinity Analysis.

2.4. Phương pháp phân tích s liu

        Tất cả số liệu thí nghiệm được phân tích bằng phần mềm thống kê SAS 9.1. Sai khác có ý nghĩa được xác định bằng Duncan’s Multiple Range Test.

3.KT QU VÀ THO LUN

3.1. nh hưởng chế phm Neovia GroMax đến năng sut gà tht

        Khả năng sản xuất gà thịt thể hiện qua các tham số quan trọng như khả năng tăng khối lượng và tiêu tốn thức ăn. Căn cứ vào các chỉ tiêu này đánh giá được hiệu quả chăn nuôi. Theo Chambers và ctv (1984) , hệ số tương quan giữa khối lượng cơ thể và tăng trọng với tiêu tốn thức ăn thường rất cao (r = 0,5- 0,9), giữa sinh trưởng và chuyển hóa thức ăn có sự tương quan âm (r= -0,2à -0,8). Kết quả thử nghiệm và so sánh thống kê tổng hợp ở bảng 2 cho thấy không có sự sai khác thống kê giữa các chỉ tiêu về khả năng tăng trọng bình quân ngày, khả năng thu nhận thức ăn hàng ngày và hệ số chuyển hóa thức ăn/kg khối lượng giữa hai lô bổ sung kháng sinh và lô bổ sung chế phẩm Neovia GroMax (P>0,05). Tuy nhiên, các chỉ tiêu này của gà thí nghiệm ở lô bổ sung kháng sinh và bổ sung chế phẩm Neovia GroMax được cải thiện hơn so với lô đối chứng và sự sai khác có ý nghĩa thông kê (P<0,05). Khả năng tăng khối lượng bình quân ngày của lô bổ sung kháng sinh và lô bổ sung chế phẩm Neovia Gromax lần lượt là 19,79 và 20,14 gam/com/ngày, cao hơn lô đối chứng chỉ đạt 19,00 gam/con/ngày. Tuy nhiên, giá trị FCR của lô đối chứng lại cao hơn so với giá trị này của hai lô thí nghiệm. Tiêu tốn thức ăn bình quân cho một kg tăng khối lượng của lô đối chứng là 3,64 kg trong khi đó lô bổ sung kháng sinh và lô bổ sung chế phẩm Neovia GroMax chỉ tiêu tốn lần lượt là 3,45 và 3,46 kg thức ăn.

anh-huong-cua-probiotic-bacillusdang-bao-tu-chiu-nhiet-den-nang-suat-vi-khuan-va-hinh-thai-vi-the-bieu-mo-duong-ruot-ga-thit-long-mau

3.2. nh hưởng ca b sung chế phm Neovia GroMax đến năng sut và cht lượng tht gà

        Kết quả khảo sát khả năng cho thịt và một số chỉ tiêu cảm quan về chất lượng thịt cho thấy, tất cả các chỉ tiêu năng suất và chất lượng thịt không có sự sai khác giữa các lô đối chứng và thí nghiệm (P>0,5). Khối lượng thân thịt, khối lượng thịt đùi và lườn ở lô bổ sung chế phẩm và lô bổ sung kháng sinh có xu hướng cao hơn so với lô đối chứng, tuy nhiên sự sai khác không có ý nghĩa thống kê.

        Tương tự, các chỉ số liên quan đến cảm quan như pH, các tham số màu sắc thịt (L*, a* và b*) và độ dai của thịt cũng không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê (P>0,05).

anh-huong-cua-probiotic-bacillusdang-bao-tu-chiu-nhiet-den-nang-suat-vi-khuan-va-hinh-thai-vi-the-bieu-mo-duong-ruot-ga-thit-long-mau

        Nghiên cứu này cho kết quả khối lượng sống, khối lượng giết thịt của cả 3 nhóm gà cao hơn so với một số giống gà khác; cụ thể như Gà Ri ở 14 tuần tuổi có khối lượng sống là 1,055kg, khối lượng giết thịt là 0,822 kg, khối lượng thân thịt là 0,738kg; gà H’Mông có khối lượng sống là 1,125kg, khối lượng giết thịt là 0,817kg và khối lượng thân thịt là 0,747kg (Lê Thị Thuý và ctv, 2010); cao hơn khối lượng cơ thể lúc 14 tuần tuổi của gà Ri và con lai (Gà Ri-Sasso-Lương Phượng) là 1,240kg và gà Ri là 1,066kg (Nguyễn Bá Mùi và Phạm Kim Đăng, 2016) nhưng lại thấp hơn so với giống gà khác như gà Lương Phượng ở 12 tuần tuổi đã đạt 2,0-2,57kg/con (Nguyễn Huy Đạt và Nguyễn Thành Đồng, 2000).

        Như vậy, các kết quả về khảo sát năng suất thịt của gà qua nghiên cứu đều nằm trong giới hạn của các giống gà ở Việt Nam.

3.3. nh hưởng ca Neovia GroMax đến mt đ mt s vi khun đường rut gà

        Tổng số vi khuẩn trong chất chứa hồi tràng, chất chứa manh tràng và trong phân của ba lô gà thí nghiệm (bảng 3) là một trong những căn cứ xác định tác dụng có lợi của chế phẩm.

anh-huong-cua-probiotic-bacillusdang-bao-tu-chiu-nhiet-den-nang-suat-vi-khuan-va-hinh-thai-vi-the-bieu-mo-duong-ruot-ga-thit-long-mau

        Tổng số E.coli và Salmonella sp. trong chất chứa hồi tràng của gà được bổ sung Neovia ProMax thấp hơn tổng số E.coli từ các mẫu chất chứa hồi tràng của gà được nuôi bằng khẩu phần cơ sở và nhóm được bổ sung kháng sinh (P<0,05). Tỷ lệ giảm tổng số E.coli trong hồi tràng do tác động của chế phẩm là 35,66% so với đối chứng (tương ứng là 3,32.106 và 5,16.106 triệu/g chất chứa). Với mẫu chất chứa manh tràng, không có sự khác nhau về số lượng E.coli ở cả 3 nhóm thí nghiệm (P>0,05). Tổng số E.coli trong phân gà được bổ sung kháng sinh thấp hơn so với hai lô còn lại. NeoAvia GroMax làm giảm 58,7% số lượng Salmonella sp. trong hồi tràng và 36,4% trong phân so với đối chứng. Tổng số C.perfringens trong cả 3 loại mẫu chất chứa hồi tràng, manh tràng và trong phân không khác nhau ở cả ba nhóm gà (P>0,05). Số lượng Lactobacillus sp. tăng 23% trong chất chứa hồi tràng của gà được bổ sung Neovia GroMax nhưng không làm thay đổi số lượng vi khuẩn này trong manh tràng và trong phân. Kháng sinh không ảnh hưởng đến tổng số Lactobacillus trong hồi tràng và trong phân so với đối chứng nhưng làm giảm số lượng vi khuẩn này trong manh tràng (P<0,05). Số lượng Lactobacillus trong mang tràng gà bổ sung kháng sinh thấp hơn 13,9% số lượng vi khuân này trong manh tràng gà được bổ sung chế phẩm probiotics. Như vậy NeoAvi GroMax tác động tích cực đến hệ vi sinh vật trong hồi tràng (tăng số lượng Lactobacillus sp; giảm số lượng E.coli và Salmonella sp); và giảm số lượng Salmonella sp. trong phân. Kháng sinh không tác động rõ rệt đến E.coli và Salmonella sp. trong hồi tràng và manh tràng nhưng làm giảm số lượng Salmonella trong phân. Tuy nhiên, một điều cần được quan tâm là kháng sinh làm giảm số lượng Lactobacillus – một vi khuẩn có lợi trong manh tràng.

        Chen và ctv (2013) cho biết Bacillus subtilis và nấm men Saccharomyces cerevisiae trong thức ăn có tác dụng làm tăng số lượng Lactobacillus sp. và ức chế E.coli trong ruột non và ruột già. Đặc biệt, probiotics chứa L. acidophilus làm tăng số lượng Lactobacillus sp.  trong manh tràng của gà thịt. Nghiên cứu của Li et al. (2014) cho thấy probiotics chứa L. acidophilus làm giàm số lượng Saccharomyces và tăng số lượng Lactobacillus trong manh tràng. Trong quần thể vi sinh vật của ruột, L.acidophilus tạo môi trường pH thấp từ đó ức chế sự phát triển của vi khuẩn và nấm gây bệnh. Thêm vào đó, L.acidophilus có khả năng thích nghi với môi trường ruột và kích thích các Lactobacillus trong manh tràng của gà được bổ sung L. acidophilus (Jin et al, 1996). L. acidophilus có tác dụng tích cực với cân bằng vi sinh vật đường ruột (Zhang et al, 2004).

        Tác dụng của NeoAvi GroMax làm tăng khối lượng cơ thể và chỉ số tăng trọng trung bình ngày thống nhất với một số nghiên cứu đã được công bố với probiotics chứa Bacillus subtilis (Khaksefidi et al., 2006). Liu et al. (2007) bổ sung vào khẩu phần cơ sở chế phẩm chứa Lactobacillus reuteri cải thiện tăng trọng gà thịt. Mountzouris và ctv (2007) chứng minh các chủng PediococcusEnterococcusLactobacillus và Bifidobacterium bổ sung trong thức ăn, nước uống cho gà thịt làm giảm trị số FCR. Kết quả nghiên cứu này cho thấy NeoAvi Gromax có xu hướng tác dụng tốt, tương tự như nhiều chế phẩm chứa vi sinh vật có lợi đã được các nghiên cứu trước đây xác định.

        Tác dụng của probiotics có thể do khả năng điều hòa miễn dịch và hỗ trợ các vi sinh vật có lợi trong hệ vi sinh vật đường ruột, cải thiện khả năng biến đổi thức ăn và hấp thu chất dinh dưỡng của vật chủ (Mountzouris et al., 2010; Alkhalf et al., 2010).

3.4. nh hưởng ca b sung chế phm Neovia GroMax đến hình thái và kích thước lông nhung biu mô niêm mc rut gà thí nghim

        Đa số lố nhung biểu mô tá tràng của gà được bổ sung NeoAvi GroMax có phần đỉnh nguyên vẹn (hình 1c). Rất nhiều lông nhung biểu mô tá tràng của gà đối chứng (hình 1a) và gà được bổ sung kháng sinh (hình 1b) có phần đỉnh không nguyên vẹn. Ranh giới giữa các lông nhung của gà được bổ sung NeoAvi GroMax cũng rõ hơn. Biểu mô không tràng của gà được bổ sung NeoAvi GroMax (hình 2c) cũng có trạng thái tốt hơn của gà đối chứng (hình 2a) và gà được bổ sung kháng sinh (hình 2b).

anh-huong-cua-probiotic-bacillusdang-bao-tu-chiu-nhiet-den-nang-suat-vi-khuan-va-hinh-thai-vi-the-bieu-mo-duong-ruot-ga-thit-long-mau

anh-huong-cua-probiotic-bacillusdang-bao-tu-chiu-nhiet-den-nang-suat-vi-khuan-va-hinh-thai-vi-the-bieu-mo-duong-ruot-ga-thit-long-mau

        Chiều cao và chiều dày lông nhung biểu mô tá tràng và không tràng được trình bày ở bảng 4.

anh-huong-cua-probiotic-bacillusdang-bao-tu-chiu-nhiet-den-nang-suat-vi-khuan-va-hinh-thai-vi-the-bieu-mo-duong-ruot-ga-thit-long-mau

        Chế phẩm Neovia GroMax làm tăng chiều cao và chiều dày lông nhung tá tràng và không tràng so với lô đối chứng (cho ăn khẩu phần cơ sở) và lô bổ sung kháng sinh. Tỷ lệ tăng tương ứng do tác dụng của chế phẩm so với đối chứng là 30% (1.322mm ở lô được bổ sung Neovia GroMax và 1,015mm ở lô đối chứng) và 20% (0,316mm so với 0,239mm). Chiều cao lông nhưng không tràng cũng tăng 20% so với đối chứng (0,878mm so với 0,731mm). Kháng sinh không làm thay đổi kích thước lông nhung biểu mô so với đối chứng.

        Diện tích bề mặt biểu mô ruột tương quan thuận với khả năng biến đổi thức ăn và đặc biệt là khả năng hấp thu dinh dưỡng. Bề mặt biểu mô có diện tích càng lớn với các tế bào biểu mô toàn vẹn là yếu tố quan trọng đảm bảo khả năng chuyển hóa thức ăn. Nghiên cứu của nhiều tác giả đều cho thấy khả năng chuyển hóa thức ăn chịu ảnh hưởng của chiều cao các lông nhung và tính toàn vẹn của các lông nhung biểu mô ruột (Erfani et al., 2013). Theo Chichlowski et al. (2007), probiotics chứa Lactobacilli bifidobacterium ther-mophilum và Enterococcus faecium làm tăng chiều cao lông nhung không tràng ở gà thịt trong khi kháng sinh salinomycin bổ sung trong thức ăn không có tác dụng này. Chiều cao của lông nhung còn liên quan đến các độc tố (Awad et al., 2006). Nhiều chế phẩm probiotics và symbiotic có tác dụng làm tăng chiều cao lông nhung biểu mô niêm mạc ruột (Erfani et al. 2013).

        Chiều cao và chiều dày lông nhung là hai chỉ số chính biểu hiện tính toàn vẹn của lông nhung và quyết định diện tích bề mặt biểu mô ruột – yếu tố ảnh hưởng đến khả năng hấp thu chất dinh dưỡng của gà. Đây chính là một trong hai cơ chế tác động chính làm giảm FCR và tăng khối lượng cơ thể của gà được bổ sung chế phẩm Neovia GroMax với thành phần vi khuẩn Bacillus dạng bào tử.

4.Kết lun

        Chế phẩm Neovia GroMax chứa bào tử Bacillus chịu nhiệt có tác dụng cải thiện khối lượng cơ thể, tăng trọng trung bình/ngày, tiêu tốn thức ăn/kg tăng trọng và tỷ lệ chuyển hóa thức ăn ờ gà thịt lông màu giống Ri Ninh Hoà.

        Bổ sung NeoAvi GroMax làm giảm số lượng vi khuẩn E.coli và Salmonella sp; tăng số lượng Lactobacillus sp. Từ đó ảnh hưởng đến hệ vi sinh vật đường ruột, giảm tổng số vi khuẩn gây bệnh và kích thích vi khuẩn có lợi phát triển, cải thiện khả năng tiêu hóa trong ruột.

        NeoAvi GroMax đảm bảo tính toàn vẹn của lông nhung biểu mô ruột, tăng chiều cao và chiều dày lông nhung từ đó có thể làm tăng hiệu quả hấp thu thức ăn và giảm nguy cơ nhiễm bệnh do vi khuẩn xâm nhập qua niêm mạc ruột.

TÀI LIU THAM KHO

  1. Alkhalf A, Alhaj M and Al-homidan I (2010). Influence of probiotic supplementation on blood parameters and growth performance in broiler chickens. Saudi J. Biol. Sci.., 17: 219-225.
  2. Awad, WA; Böhm, J; Razzazi-Fazeli, E; Ghareeb, K and Zentek, J (2006). Effect of addition of a probiotic microorganism to broiler diets contaminated with deoxynivalenol on performance and histological alterations of intestinal villi of broiler chickens. Poult. Sci., 85: 974- 979.
  3. Blok, M. C., H. A. Vahl, L. de Lange, A. E. van de Braak, G. Hemke and M. Hessing. 2002. Nutrition and health of the gastrointestinal tract. Wageningen Academic. The Netherlands: 45-49.
  4. B Nông nghip & Phát trin nông thôn (2016). Thông tư số 06/2016/TT-BNNPTNT ngày 31 tháng 5 năm 2016 về việc hàm lượng kháng sinh được phép sử dụng trong thức ăn chăn nuôi gia súc, gia cầm, nhằm mục đích kích thích sinh trưởng.
  5. Bùi Hu Đoàn, Nguyn Th Mai, Nguyn Thanh Sơn, Nguyn Huy Đt (2011). Các chỉ tiêu dùng trong nghiên cứu chăn nuôi gia cầm. NXB Nông nghiệp Hà Nội.
  6. Chen W, Zhu XZ and Wang JP et al (2013). Effects of Bacillus subtilis var. natto and Saccharomyces cerevisiae fermented liquid feed on growth performance, relative organ weight, intestinal microflora, and organ antioxidant status in Landes geese. J. Anim Sci., 91(2): 978-985.
  7. Chambers, J.R., Bernon, D.E. & Gavora, J.S. Theoret. Appl. Genetics (1984) 69: 23. doi:10.1007/BF00262532
  8. Collins, M. D., and G. R. Gibson. 1999. Probiotics, prebiotics, and synbiotics: approaches for modulating the microbial ecology of the gut. Am. J. Clin. Nutr. 69 (Suppl. 1):1052S
  9. Erfani Majd, N.; Mayahi, M. and Sadeghi Moghadam, A. (2013). The effect of alphamune and biomin on histomorphological structure of small intestine and caecal tonsil lymphoid tissue in broiler chicken. Iranian Journal of Veterinary Research, Shiraz University IJVR, 2014, Vol. 15, No. 1, Ser. No. 46, Pages 30-35
  10. Fluton, R, N,, Nersessian, B, N, and Reed, W, M, (2002), Prevention of Salmonella enteristidis infection in commercial duckling by oral chicken egg-derived antibody alone or in combination with probiotics Poultry Science Journal, 81(34-40);
  11. Fuller, R., 1989. Probiotics in man and animals. J. Appl. Bacteriol. 66:365-378
  12. 12. Jin LZ, Ho YW and Ali AM et al (1996). Adhesion of Lactobacillus isolates to intestinal epithelial cells of chicken. Lett. Appl. Microbiol., 22(3): 229-32.
  13. Hale, O. M. and G. L. Newton. (1979). Effects of a nonviable lactobacillus species fermentation product on performance of pigs. J. Anim. Sci. 48:770-775
  14. Hong, J. W., I. H. Kim, O. S. Kwon, J. H. Kim, B. J. Min and W. B. Lee. (2002). Effects of dietary probiotics supplementation on growth performance and fecal gas emission in nursing and finishing pigs. J. Anim. Sci & Technol. (Kor.) 44: 305-314.
  15. Khaksefidi A and Ghoorchi T (2006). Effect of probiotic on performance and immunocompetence in broiler chicks. J. Poult. Sci., 43(3): 296-300.\
  16. Kornegay, E. T. and C. R. Risley. (1996). Nutrient digestibility of a corn-soybean meal diet as influenced by Bacillus products fed to finishing swine. J. Anim. Sci. 74:799-805
  17. LI Y.B., Xu Q., Yang C.J., Yang X., Le L.V., Yin C.H., Liu X.L., and Yan H. (2014). Effects of probiotics on the growth performance and intestinal micro flora of broiler chickens. Pak. J. Pharm. Sci., Vol.27, No.3(Supp.), pp.713-717.
  18. Lê Th Thuý, Trn Th Kim Anh và Nguyn Th Hng Hnh, 2010. Khảo sát thành phần và chất lượng thịt gà H’Mông và gà Ri ở 14 tuần tuổi. Viện Chăn nuôi, Tạp chí Khoa học Công nghệ chăn nuôi- số 25-tháng 8-2010.
  19. Liu JR, Lai SF and Yu B (2007). Evaluation of an intestinal Lactobacillus reuteri strain expressing rumen fungal xylanase as a probiotic for broiler chickens fed on a wheat-based diet. Brit. Poultry Sci., 48: 507-514.
  20. Maxwell, C. V., D. S. Buchanan, F. N. Owens, S. E. Gilliland, W. G. Luce and R. Vencl. (1983). Effect of probiotic supplementation on performance, fecal parameters and digestibility in growing finishing swine. Oklahoma Agric. Exp. Sta. Anim. Sci. Res. Rep. 114:157
  21. Mountzouris KC, Tsitrsikos P and Palamidi I (2010). Effects of probiotic inclusion levels in broiler nutrition on growth performance, nutrient digestibility, plasma immunoglobulins and cecal microflora composition.
  22. Nahashon, S. N., H. S. Nakaue, S. P. Snyder, and I. W. Mirodh. (1994). Performance of Single Comb White Leghorn layers fed corn-soybean meal and barley-corn soybean meal diets supplemented with a directed-fed microbials. Poultry Sci. 73: 1712-1723;
  23. Nguyn Bá Mùi và Phm Kim Đăng (2016). Khả năng sản xuất của gà ri và con lai (Ri-Sasso-Lương Phượng) nuôi tại An Dương, Hải Phòng. Tạp chí KH Nông nghiệp Việt Nam 2016, tập 14, số 3: 392-399.
  24. Nguyễn Huy Đạt và Nguyễn Thành Đồng, Lê Thanh Ân, Hồ Xuân Tùng, Phạm Bích Hướng (2001). Nghiên cứu đặc điểm sinh học, tính năng sản xuất gà Lương Phượng Hoa nuôi tại Trại thực nghiệm Liên Ninh, Báo cáo khoa học chăn nuôi thú y 1999- 2000, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tổ chức tại thành phố Hồ Chí Minh .
  25. Perdigon, G., S; E. Alvarze. M. Vintine, M. Medine and M. Medici. (1999). Study of the possible mechanisms involved in the mucosal immune system activation by lactic acid bacteria. J. Dairy Sci. 82:1108-1114.
  26. Poultry Sci., 89(1): 58-67. Chichlowski, M; Croom, WJ; Edens, FW; MacBride, BW; Qiu, R; Chiang, CC; Daniel, LR; Havenstein, GB and Koci, MD (2007). Microarchitecture and spatial relationship between bacteria and ileal, cecal and colonic epithelium in chicks fed a direct-fed microbial, PrimaLac, and salinomycin. Poult. Sci., 86: 1121-1132.
  27. Zhang YC, Zhang LW and Li Y (2004). Study on the growth inhibition of some pathogens by the L.Acidophilus and B. Infantis. J. Northeast Agri. Univer., 35(2): 151-153.

Nguồn: Bài đăng trên Tạp chí Khoa học Kỹ thuật chăn nuôi số 213, tháng 11.2016